Showing posts with label Chăm sóc da. Show all posts
Showing posts with label Chăm sóc da. Show all posts

Monday, 20 September 2021

Chất dưỡng ẩm trong chăm sóc da - Dịch- Bs. Trương Tấn Minh Vũ

 



Link tải file pdf: https://drive.google.com/file/d/1QJYFAHEkdNiJxObPcTDoFPQq9hUnDsrN/view?usp=sharing

SẢN PHẨM LÀM SẠCH TRONG CHĂM SÓC DA - Dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ


 


https://drive.google.com/file/d/1V7eBAMB1SeqzibrkZ-dMAWKzON4m3zBf/view?usp=sharing

DA NHẠY CẢM- Sinh lý bệnh và kiểm soát - Dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ

 


Link tải file pdf: https://drive.google.com/file/d/1apoRtSwCPTFU3KONmd8kHyHHNBQCzK5k/view?usp=sharing

DA NHẠY CẢM - Bs. Trương Tấn Minh Vũ



TỔNG QUÁT
- Da nhạy cảm là một hội chứng được xác định bởi sự xuất hiện của các cảm giác khó chịu (cảm giác châm chích, bỏng rát, đau, ngứa và ngứa ran) khi đáp ứng với các kích thích mà thông thường sẽ không gây ra những cảm giác này.
NGUYÊN NHÂN
*** CHỨC NĂNG HÀNG RÀO DA
- Hàng rào bảo vệ da có nhiều chức năng và bảo vệ chúng ta khỏi các mối đe dọa từ bên ngoài như hóa chất, tác nhân lây nhiễm và chất gây dị ứng.
- Người ta còn biết rất ít về làn da nhạy cảm và mối liên quan của nó với chức năng hàng rào bảo vệ da. Có thể giả định rằng da nhạy cảm có thể liên quan đến, ví dụ: tăng tính thấm của hàng rào bảo vệ da, khô da, bị cản trở chức năng bởi các bệnh ngoài da như viêm da dị ứng (AD) và bệnh trứng cá đỏ, hoặc có thể liên quan đến tăng mất nước qua biểu bì (TEWL) và giảm lượng yếu tố giữ ẩm tự nhiên.
*** VAI TRÒ CỦA LỚP SỪNG
- Các đối tượng có làn da nhạy cảm đã được báo cáo là có lớp sừng mỏng hơn với giảm số lượng tế bào sừng hoá gây ra sự xâm nhập qua da cao hơn của các hóa chất tan trong nước.
- Có một lớp sừng mỏng dễ thấm, khiến những đối tượng này dễ bị kích ứng với hóa chất hơn. Hơn nữa, chức năng hàng rào bị suy giảm ở da nhạy cảm đã được báo cáo là do sự mất cân bằng của các lipid gian bào của lớp sừng
*** LIÊN QUAN VỚI VIÊM DA VÀ CƠ ĐỊA DỊ ỨNG
- Một tỷ lệ lớn người lớn có da nhạy cảm đã báo cáo bị AD trong tiền sử bệnh của họ trong thời thơ ấu (gợi ý cho các yếu tố chung giữa da nhạy cảm và AD). Da nhạy cảm cũng được báo cáo là thường xuất hiện trong AD mắc phải và tương quan với các dấu hiệu mức độ nghiêm trọng của bệnh.
*** CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
- Vai trò của các yếu tố môi trường đối với da nhạy cảm chủ yếu được đánh giá theo chủ quan của bệnh nhân, chưa có bằng chứng về sự liên quan của các yếu tố này và cần có các nghiên cứu sâu hơn.
*** VAI TRÒ SINH HOÁ CỦA CÁC PROTEIN CẢM GIÁC
- Sự kích hoạt của da nhạy cảm bởi vật lý, hóa học hoặc hóa lý có thể được giải thích là do sự hoạt hóa hay đúng hơn là sự tăng hoạt hóa của các protein hiện diện trên bề mặt của tế bào sừng và các đầu mút thần kinh trong biểu bì.
- Ở da nhạy cảm, các protein cảm giác như TRPV1 và ASIC3 đã được báo cáo là có biểu hiện quá mức.
*** VAI TRÒ ĐẦU MÚT THẦN KINH Ở BIỂU BÌ
- Do da nhạy cảm chủ yếu có nhiều triệu chứng cảm giác khác nhau, nên có khả năng rối loạn chức năng thần kinh trên da là một trong những cơ chế bệnh lý của da nhạy cảm.
*** VAI TRÒ CỦA HỆ MẠCH
- Thử nghiệm độ giãn mạch của da có thể là một cách tiếp cận khách quan để kiểm tra da nhạy cảm. Tăng phản ứng mạch máu với methyl nicotinate đã được báo cáo ở những người có da nhạy cảm so với những người bình thường.
*** VAI TRÒ STRESS
- Stress đóng một vai trò quan trọng đối với làn da, có bằng chứng rõ ràng rằng triệu chứng ngứa có thể được kích hoạt chỉ với những cảm xúc tiêu cực như sau khi xem một bộ phim kinh dị.
*** HIỆU ỨNG NOCEBO (kỳ vọng tiêu cực)
- Ở da nhạy cảm, có bằng chứng tương đối nhất quán về mức độ ảnh hưởng của hiệu ứng nocebo đến các vấn đề như ngứa và phản ứng của da. Một số nghiên cứu cho thấy rằng các kỳ vọng tiêu cực có thể dẫn đến ngứa nhiều hơn hoặc kích thước mày đay lớn hơn ở những người khỏe mạnh.
KIỂM SOÁT DA NHẠY CẢM
*** TRÁNH CÁC YẾU TỐ KÍCH HOẠT
- Tránh các yếu tố gây kích ứng da nhạy cảm, các chất có khả năng gây kích ứng (axit alpha-hydroxy, propylene glycol, nước hoa có cồn, chất bảo quản, chất hoạt động bề mặt và những chất khác)
- Các yếu tố vật lý cũng thường được bệnh nhân tuyên bố là các yếu tố làm trầm trọng thêm hoặc kích hoạt da nhạy cảm: không khí ẩm ướt, sự thay đổi nhiệt độ, điều hòa không khí, nóng, không khí khô, lạnh, gió và nắng nên được tránh bằng cách điều chỉnh thói quen cuộc sống, nghề nghiệp và lúc nhàn rỗi.
- Các bệnh da nghề nghiệp như viêm da tiếp xúc kích ứng thường liên quan đến da nhạy cảm. Ở những bệnh nhân bị ảnh hưởng, việc phòng ngừa là một vấn đề quan trọng. Một số cách bảo vệ hàng rào bằng cách phòng ngừa đã được công bố, bao gồm bảo vệ da bằng cách đeo găng tay, sử dụng kem bảo vệ và dưỡng ẩm thường xuyên cho da. Điều này có thể ngăn chặn sự phát triển của da nhạy cảm.
*** CHẤT LÀM MỀM/ DƯỠNG ẨM
- Có báo cáo rằng chất làm mềm có thể làm giảm ngứa đáng kể ngay cả sau lần sử dụng đầu tiên, phục hồi chức năng hàng rào da và được coi là một cách tiếp cận đối với làn da nhạy cảm trong bệnh chàm.
- Sữa tắm và lotion có lipid tương tự của da được sử dụng kết hợp và được báo cáo là có khả năng phục hồi chức năng hàng rào bảo vệ da, tăng độ ẩm cho da và trở thành một lựa chọn dưỡng ẩm da hiệu quả cho bệnh nhân da khô dị ứng cũng liên quan đến da nhạy cảm.
*** CHỐNG NẮNG
- Tia cực tím (UVR) gây ra nhiều tác động có hại trên da, có thể làm tăng các triệu chứng của da nhạy cảm khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Ví dụ, UVR làm tăng giải phóng các neuropeptide từ các đầu dây thần kinh như chất P và peptit liên quan đến gen calcitonin. Cả hai đều được biết là gây giãn mạch, ngứa hoặc cảm giác đau rát và viêm thần kinh.
- Những đối tượng có làn da nhạy cảm nên hạn chế tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, tìm bóng râm khi ra ngoài, mặc quần áo chống nắng và đội mũ phù hợp như mũ rộng vành và thoa kem chống nắng. Bệnh nhân có làn da nhạy cảm nên thoa kem chống nắng có chỉ số chống nắng ít nhất là 30, loại kem chống nắng này cũng cung cấp khả năng chống nắng phổ rộng bao gồm tia UVA, vì những sản phẩm này giúp bảo vệ tốt hơn khỏi tác hại của ánh nắng mặt trời. Tuy nhiên, cần nhớ rằng kem chống nắng cũng có thể là tác nhân gây ra da nhạy cảm.
*** ỨC CHẾ VIÊM THẦN KINH
- Các tác nhân chính gây ra chứng viêm thần kinh ở da nhạy cảm là rất nhiều. Các chất gây ngứa này nhắm mục tiêu vào các dây thần kinh bì và biểu bì, các dây thần kinh này có thể thay đổi hình thái các đầu tận với sự tăng động và viêm thần kinh sau đó.
- Liệu pháp laser / ánh sáng cường độ thấp và thành phần chống viêm thực vật đã cho thấy những tác dụng hữu ích trên da nhạy cảm.
*** HIỆU ỨNG PLACEBO (kỳ vọng tích cực)
- Mặc dù không có nghiên cứu trực tiếp tập trung vào vai trò của tác dụng giả dược đối với da nhạy cảm, nhưng có bằng chứng gián tiếp từ nghiên cứu về tác dụng của giả dược đối với chứng ngứa.
*** TIẾP CẬN TOÀN DIỆN
- Cơ chế bệnh sinh của da nhạy cảm chưa được hiểu rõ ràng và hầu hết có lẽ là do đa yếu tố, nên không có "tiêu chuẩn vàng" về điều trị cho da nhạy cảm.
- Bệnh nhân có làn da nhạy cảm cần một phương pháp tiếp cận được cá nhân hóa, có tính đến các yếu tố y sinh, thần kinh và tâm lý xã hội khác nhau. Tránh các yếu tố làm trầm trọng thêm, phục hồi hàng rào bảo vệ da bị tổn thương, bảo vệ khỏi ánh sáng và các yếu tố chống viêm cũng như các yếu tố tâm lý xã hội có thể gây ra cần được cân nhắc. Nhiều bệnh nhân cũng có lợi ích từ việc được hỗ trợ tâm lý, giúp họ đối phó với các vấn đề về da nhạy cảm.

Sunday, 19 September 2021

ĐỘ pH CỦA DA NGƯỜI - Dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ

 


https://drive.google.com/file/d/1uJqfH6DWUAhrvnKoxKlh692YlOqQ60Qa/view?usp=sharing


KIỂM SOÁT TÁC DỤNG PHỤ CỦA VITAMIN A VÀ RETINOIDS (tóm tắt) - Tác giả: Asli Tatliparmak and Berna Aksoy - Dịch & Tóm tắt: Bs. Trương Tấn Minh Vũ



Thuật ngữ “retinoids” đề cập đến các hợp chất hóa học là dẫn xuất của vitamin A hoặc retinol all-trans. Có hai loại thụ thể chính liên kết với retinoid: protein liên kết retinoid và thụ thể nhân retinoid.
• Retinoids thế hệ thứ nhất (không vòng thơm) là retinol, isotretinoin, tretinoin và alitretinoin.
• Retinoids thế hệ thứ hai (một vòng thơm) là etretinate, acitretin và motretinate.
• Retinoids thế hệ thứ ba là adapalene, tazarotene và bexarotene.
Tính an toàn và tác dụng phụ của retinoids tổng hợp hiện đã được xác minh rõ ràng. Tác dụng ngoại ý phụ thuộc vào liều lượng. Phần lớn các tác dụng phụ được cho là phát sinh do hội chứng tăng vitamin A, nhưng retinoids tổng hợp có các hoạt tính sinh học khác với vitamin A tự nhiên (retinol) và chất chuyển hóa có hoạt tính của nó, axit retinoic. Vì lý do này, các tác dụng phụ có thể xảy ra do cả chứng tăng vitamin A và chứng thiếu hụt vitamin A.
KIỂM SOÁT TÁC DỤNG PHỤ CỦA RETINOID BÔI TẠI CHỖ
Tretinoin, adapalene và tazarotene là những loại retinoid tại chỗ thường được sử dụng trong da liễu. Tác dụng phụ chính của retinoid tại chỗ là viêm da tiếp xúc kích ứng, còn được gọi là viêm da retinoid, bao gồm ban đỏ, khô, tróc vảy, bỏng rát và ngứa. Khả năng gây kích ứng phụ thuộc vào nồng độ và công thức của sản phẩm, với retinoid trong dung dịch gel có cồn hoặc trong dạng lotion sẽ gây kích ứng nhiều hơn. Viêm da retinoid có thể được giảm bớt bằng cách thoa kem dưỡng ẩm hoặc sử dụng corticosteroid tác dụng thấp đến trung bình trong 3–7 ngày trong những trường hợp nghiêm trọng hơn. Có thể ngăn ngừa kích ứng bằng cách thoa kem dưỡng ẩm trước khi thoa retinoid tại chỗ.
Sự hấp thu qua da của tretinoin 0,05% tại chỗ thấp và nằm trong khoảng từ 1% đến 2% ngay cả sau khi bôi thuốc lâu dài. Tretinoin và adapalene bôi tại chỗ được dán nhãn là loại C trong thời kỳ mang thai, cho thấy rằng không thể loại trừ rủi ro, vì thiếu dữ liệu trên người và các nghiên cứu trên động vật là có ảnh hưởng hoặc thiếu dữ liệu. Tazarotene được xem là loại X dành cho thai kỳ, cấm sử dụng trong thời kỳ mang thai và cho con bú.
Vài năm trước, kem tretinoin được cho là có khả năng gây nhạy cảm với ánh sáng. Bằng chứng gần đây cho thấy rằng retinoids bôi tại chỗ không gây ngộ độc ánh sáng (phototoxic) cũng như không gây dị ứng ánh sáng (photoallergic). Chúng là chất gây kích ứng, và nếu bệnh nhân để vùng da bị kích ứng của họ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời hoặc gió khô sẽ làm tăng thêm sự khó chịu. Việc bôi các loại retinoid tại chỗ này vào buổi tối đã được đề xuất để tạo sự thoải mái và tuân thủ nhất của bệnh nhân.
KIỂM SOÁT TÁC DỤNG PHỤ CỦA RETINOID TOÀN THÂN
*** Gây quái thai
Tác dụng phụ quan trọng nhất của retinoid là gây quái thai. Retinoids đường uống được coi là loại X. Dị tật thai nhi do retinoids gây ra bởi sự xáo trộn của tế bào mào thần kinh và hệ thần kinh trung ương, có thể dẫn đến những bất thường của hệ thần kinh trung ương, mặt, tim, mắt và tuyến ức.
Có bằng chứng cho thấy retinoids làm giảm hiệu quả của thuốc uống tránh thai, do đó, nên áp dụng các biện pháp tránh thai bổ sung như dùng bao cao su.
Trước khi bắt đầu điều trị, nên có hai lần thử thai riêng biệt (nước tiểu hoặc huyết thanh). Bệnh nhân nên bắt đầu điều trị bằng retinoid toàn thân vào ngày thứ hai hoặc thứ ba của chu kỳ kinh nguyệt tiếp theo. Trong thời gian điều trị, nên kiểm tra thai hàng tháng, khi ngừng điều trị retinoid, nên tránh mang thai thêm 1 tháng sau khi sử dụng isotretinoin, alitretinoin và bexarotene, và trong 3 năm sau khi dùng acitretin.
*** Tác dụng phụ trên da - niêm
Tác dụng phụ trên da - niêm thay đổi tùy theo thành phần. Isotretinoin gây khô niêm mạc hơn do giảm sản xuất bã nhờn, giảm độ dày của lớp sừng và thay đổi chức năng hàng rào bảo vệ da. Acitretin có liên quan đến tỷ lệ rụng tóc và viêm da lòng bàn tay cao hơn, trong khi bexarotene gây ra các tác dụng phụ trên da niêm và mắt nhẹ hơn so với các retinoid khác. Khô da và viêm môi nói chung là những tác dụng phụ thường gặp nhất của retinoid.
Vitamin E liều 800 IU mỗi ngày đã được đề xuất để giảm tác dụng phụ trên da niêm khi điều trị bằng isotretinoin đường uống nhưng sau đó bị xem là còn gây tranh cãi. Sử dụng omega-3 đường uống cũng được cho là làm giảm tác dụng phụ trên da niêm của retinoid.
- Viêm môi: Viêm môi ảnh hưởng gần như tất cả các bệnh nhân. Nhiễm trùng Staphylococcus aureus thứ phát có thể xảy ra. Có thể bắt đầu thoa son dưỡng ẩm hoặc mỡ bôi trơn vào ngày đầu tiên điều trị bằng retinoid và thoa ít nhất 4–5 lần mỗi ngày.
- Khô mắt và Viêm kết mạc: Các tác dụng phụ thường gặp nhất đối với mắt do retinoids bao gồm khô mắt, viêm kết mạc, á sừng, lẹo, chắp, viêm mí mắt và đau mắt. Nước hoặc gel nhân tạo nhỏ mắt được sử dụng trong điều trị bệnh khô mắt.
- Khô mũi: lỗ mũi trở nên khô và thậm chí nứt, có thể chảy máu cam. Bôi chất làm mềm hoặc mỡ bôi trơn thường xuyên cho vùng mũi trước sẽ làm giảm tình trạng này.
- Thay đổi tình trạng chàm: Những thay đổi tình trạng chàm do retinoids gồm khô da và có thể cả những thay đổi về tình trạng viêm da. Bôi kem dưỡng ẩm và, nếu nghiêm trọng, corticosteroid tại chỗ có thể hữu ích.
- Nhạy cảm ánh sáng: sử dụng kem chống nắng và hạn chế tiếp xúc với ánh sáng mặt trời là cần thiết khi sử dụng retinoid dạng uống.
- Viêm quanh móng: Viêm quanh móng mãn tính kéo dài hơn 6 tuần và sự tăng sinh mô hạt của nếp gấp móng bên đã được mô tả ở những bệnh nhân đã được điều trị bằng retinoid. Những tác dụng phụ này phổ biến hơn với etretinate và ít hơn với isotretinoin. Đối với viêm quanh móng trung bình hoặc nặng, kháng sinh bôi tại chỗ hoặc bạc nitrat được cho là hữu dụng.
- Tóc: Rụng tóc lan tỏa phụ thuộc vào liều lượng thường thấy với etretinate và acitretin nhưng ít gặp hơn với isotretinoin. Rụng tóc như vậy xảy ra với liều cao hơn, vì vậy vấn đề có thể được khắc phục bằng cách giảm liều và/hoặc thời gian điều trị.
*** Tác dụng phụ ở cơ xương
Có tới 50% bệnh nhân dùng retinoid có thể bị đau cơ, thường đủ nhẹ để bệnh nhân giảm đau khi dùng thuốc chống viêm không steroid. Khi cơn đau nghiêm trọng hoặc không đáp ứng với thuốc chống viêm, nên cân nhắc việc ngừng sử dụng retinoid.
Đau cơ cũng có thể được quan sát thấy ở những bệnh nhân vận động mạnh; tuy nhiên, loại và mức độ tập thể dục có thể gây hại cho mô cơ hiện vẫn chưa được biết rõ. Mặc dù một nghiên cứu cho thấy rằng bổ sung L-carnitine (100 mg/kg mỗi 24 giờ) có thể hữu dụng, nhưng hiệu quả vẫn chưa được xác nhận bởi các nghiên cứu khác.
*** Tác dụng phụ ở hệ thần kinh trung ương
Tác dụng phụ trên hệ thần kinh trung ương rất hiếm. Một số bệnh nhân có thể có các dấu hiệu tăng áp lực nội sọ, chẳng hạn như nhức đầu, buồn nôn và nôn, và sự xuất hiện của khối u não giả kèm theo phù gai thị và mờ mắt là rất hiếm. Sử dụng đồng thời các loại thuốc khác có liên quan đến tăng áp lực nội sọ (ví dụ: tetracycline, doxycycline, minocycline, lithium, hoặc vitamin A bổ sung) là yếu tố nguy cơ chính phát triển u não giả. Retinoids cũng nên được kê đơn một cách thận trọng khi có các tình trạng sức khoẻ như rối loạn chức năng tuyến giáp, bệnh Cushing, lupus ban đỏ hệ thống, béo phì, điều trị corticosteroid kéo dài và cai corticosteroid, tất cả đều được biết là gây tăng huyết áp nội sọ lành tính. Nếu cơn đau đầu trở nên dai dẳng, đặc biệt là nếu đi kèm với nôn, buồn nôn và mờ mắt, nên ngừng điều trị retinoid ngay lập tức.
Có thể có mối liên quan giữa liệu pháp retinoid và trầm cảm hoặc xu hướng tự tử. Nói chung, các nghiên cứu về tâm thần cho thấy mối liên quan giữa retinoid và trầm cảm, trong khi các nghiên cứu da liễu nhấn mạnh sự hiện diện của chứng trầm cảm thường xuyên ở bệnh nhân mụn trứng cá và làm giảm các triệu chứng trầm cảm và đánh giá thấp hình ảnh bản thân bằng cách sử dụng điều trị retinoid toàn thân đối với mụn trứng cá vừa đến nặng.
*** Nhiễm độc gan và rối loạn lipid
Retinoids có thể dẫn đến tăng mức triglyceride và cholesterol toàn phần và giảm lipoprotein mật độ cao, có thể là do cản trở quá trình thanh thải lipid. Khi điều trị trên bệnh nhân tiểu đường, béo phì, uống quá nhiều rượu, rối loạn chuyển hóa lipid, hoặc tiền sử gia đình bị rối loạn chuyển hóa lipid, bác sĩ nên xét nghiệm lipid và khuyến nghị chế độ ăn uống hạn chế thích hợp.
Điều trị đầu tiên cho tăng triglycerid máu (định nghĩa: >150 mg/dL) và tăng cholesterol máu (định nghĩa: > 200 mg/dL) là thay đổi lối sống. Nên giảm cân vì giảm 5% –10% trọng lượng có thể làm giảm tới 20% triglycerid. Nên hạn chế lượng chất béo trong khẩu phần, đặc biệt là chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa, và nên giảm lượng carbohydrate tinh chế.
Ngoài việc thay đổi lối sống, chế độ bổ sung đã được chứng minh là làm giảm một số tác dụng phụ của retinoids. Dầu cá, hạt bông và protein đậu nành đã được chứng minh là có thể làm giảm chứng tăng triglycerid máu do retinoid. Ngoài ra, vitamin E với liều 800 IU mỗi ngày có thể làm giảm tình trạng cholesterol và triglyceride tăng cao. Omega-3 ethyl ester có hiệu quả trong điều trị tăng triglycerid máu với liều 2–4 g/ngày.
Các bất thường về men gan thường gặp trong vòng 2-8 tuần đầu điều trị và trở lại bình thường trong vòng 2 đến 4 tuần nữa ngay cả khi tiếp tục điều trị. Nên ngừng sử dụng retinoid nếu lượng transaminase tăng gấp ba lần và không được phục hồi cho đến khi mức tăng trở lại bình thường.
KẾT LUẬN
Retinoids toàn thân có nhiều tác dụng phụ khác nhau có thể tránh được hoặc giảm thiểu bằng cách sử dụng thích hợp các thành phần này, cả tại chỗ và toàn thân. Những cân nhắc quan trọng nhất là ảnh hưởng đến thai nhi, do đó phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, khi được chỉ định dùng retinoid toàn thân, nên sử dụng hai phương pháp tránh thai hiệu quả trước 1 tháng và trong 1 tháng sau khi ngừng điều trị bằng isotretinoin, alitretinoin và bexarotene. Với acitretin, không được mang thai trong vòng 3 năm sau khi ngừng điều trị. Các tác dụng phụ của retinoids bôi tại chỗ thường được kiểm soát bằng việc sử dụng kem dưỡng ẩm và giảm tần suất bôi.

HƯỚNG DẪN CHĂM SÓC DA AN TOÀN Ở PHỤ NỮ MANG THAI - Tác giả: Nicole Jablonski - Dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ



- Khi phát hiện đang mang thai, cả thế giới của người phụ nữ sẽ thay đổi, trong đó bao gồm các sản phẩm chăm sóc da.
- Việc phải loại bỏ các sản phẩm chăm sóc da đang sử dụng có thể là một cú sốc, nhưng đó là việc phải làm vì lý do chính đáng: một số thành phần nhất định trong sản phẩm chăm sóc da có thể được hấp thụ vào cơ thể mẹ và vì vậy có thể ảnh hưởng đến thai nhi.
- Phần lớn các sản phẩm chăm sóc da không kê đơn (OTC) đều an toàn, nhưng có một số thành phần có thể gây hại cho thai nhi.
- Vấn đề quan trọng của việc chăm sóc da khi mang thai là cân bằng giữa việc duy trì vẻ ngoài rạng rỡ cho mẹ và bảo vệ thai nhi.
NHỮNG THAY ĐỔI Ở DA PHỤ NỮ KHI MANG THAI
- Những thay đổi ở da do mang thai xảy ra với nhiều người, nguyên nhân chính được cho là nội tiết tố. Một số phụ nữ may mắn vẫn giữ được làn da hoàn hảo qua 9 tháng mang thai, nhưng một số người khác lại gặp ít nhất một vấn đề mới ở da hoặc da xấu đi vào một thời điểm nào đó. Phổ biến nhất là:
• Da khô
• Nám
• Mụn
- Những người mắc các bệnh da từ trước như chàm, vẩy nến hoặc bệnh trứng cá đỏ cũng có thể bị thay đổi các triệu chứng (tốt hơn hoặc xấu hơn).
- Những thay đổi ở da gây khó chịu cũng xảy ra ở những vị trí khác như rạn da, giãn mạch mạng nhện, mọc tóc hoặc rụng tóc.
CÁC THÀNH PHẦN TRONG SẢN PHẨM CHĂM SÓC DA CẦN TRÁNH KHI MANG THAI
- Các dữ liệu dựa trên bằng chứng về sự an toàn của các sản phẩm cụ thể trong thai kỳ còn hạn chế. Trong hầu hết các trường hợp, các thử nghiệm lâm sàng trên phụ nữ mang thai để chứng minh tính gây hại của một số thành phần không được chấp nhận về mặt đạo đức trong nghiên cứu. Một số nghiên cứu trên động vật, hoặc trường hợp cụ thể đã cho thấy một số ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai nhi liên quan đến một số thành phần chăm sóc da phổ biến, đó là cơ sở cho các đề xuất này.
- Tuy FDA yêu cầu các sản phẩm mỹ phẩm phải “an toàn” dựa trên mục đích sử dụng và phải ghi nhãn cụ thể, nhưng chúng không cần sự chấp thuận của FDA để được bán trên thị trường. Điều này đặt ra câu hỏi lớn về việc mỹ phẩm nào thực sự an toàn để sử dụng khi mang thai.
*** Retinoids
- Vitamin A (retinol, retinoic acid) là một chất dinh dưỡng quan trọng cần thiết cho làn da, miễn dịch, phân chia tế bào, sinh sản và mắt.
- Một số sản phẩm chăm sóc da chống lão hóa sử dụng retinoids đã trở thành “thần thánh” vì nhiều tác dụng như điều trị mụn trứng cá và giảm nếp nhăn. Retinoids có tác dụng này bằng cách giúp các tế bào da ở bề mặt bong tróc tự nhiên nhanh hơn và thúc đẩy sản xuất collagen để trẻ hóa da.
- Các sản phẩm không kê đơn có hàm lượng retinoid thường thấp hơn các loại thuốc kê đơn - như Retin-A (tretinoin) và Accutane (isotretinoin) - có hàm lượng cao hơn nhiều. Lượng retinoids được hấp thụ vào cơ thể từ các sản phẩm bôi ngoài da có thể thấp, các dị tật bẩm sinh có liên quan đến việc sử dụng liều lượng cao hơn. Tuy nhiên, tất cả các retinoids đều được khuyến cáo không nên sử dụng trong khi mang thai.
- Các loại retinoid kê đơn như Accutane (Isotretinoin) đã được ghi nhận phổ biến về việc gây ra 20- 35% nguy cơ mắc các khuyết tật bẩm sinh nghiêm trọng, với 60% trẻ em có vấn đề về thần kinh. Do đó, khuyến cáo đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi dùng Isotretinoin:
• Sử dụng hai hình thức tránh thai
• Thường xuyên được bác sĩ theo dõi thai kỳ và phải tuân thủ
• Ngừng thuốc 1-2 tháng trước khi muốn mang thai
*** Salicylic acid liều cao
- Salicylic acid là một thành phần phổ biến để điều trị mụn trứng cá do khả năng chống viêm, như tính chất của một aspirin. Nhưng một nghiên cứu năm 2013 đã kết luận các sản phẩm chứa hàm lượng salicylic acid cao - như sản phẩm peel da và thuốc uống - nên tránh sử dụng trong khi mang thai.
- Các sản phẩm không kê đơn bôi tại chỗ có chứa salicylic acid hàm lượng thấp đã được trường Đại học Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) báo cáo là an toàn.
*** Hydroquinone
- Hydroquinone là một sản phẩm cần kê đơn để làm sáng da hoặc cải thiện vấn đề sắc tố da do nám, có thể do mang thai.
- Không có mối liên hệ nào được chứng minh giữa các khuyết tật bẩm sinh nghiêm trọng và hydroquinone. Nhưng vì cơ thể có thể hấp thụ một lượng hydroquinone đáng kể so với các thành phần khác (25- 35 %), tốt nhất nên hạn chế sử dụng trong khi mang thai.
*** Phthalates
- Phthalates là hóa chất gây rối loạn nội tiết được tìm thấy trong nhiều sản phẩm làm đẹp. Trong các nghiên cứu trên động vật, rối loạn chức năng sinh sản và hormone nghiêm trọng có liên quan đến việc tiếp xúc với phthalate.
- Có rất ít nghiên cứu trên người để chứng minh điều này, nhưng các chất gây rối loạn nội tiết đang ngày càng được FDA và cơ quan chuyên môn như Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ nghiên cứu về vai trò tiềm ẩn của chúng trong việc ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe sinh sản bẩm sinh.
- Mỹ phẩm là nguồn tiếp xúc phthalate hàng đầu, phthalate phổ biến nhất dễ tìm thấy trong các sản phẩm làm đẹp là diethylphthalate (DEP).
*** Formaldehyde
- Formaldehyde hiếm khi còn được sử dụng làm chất bảo quản và chất khử trùng trong các sản phẩm làm đẹp vì nó là một chất gây ung thư đã được xác định, có thể làm tăng nguy cơ vô sinh và sẩy thai.
- Tuy nhiên có những hóa chất giải phóng formaldehyde thường được tìm thấy trong mỹ phẩm có tác động nguy hiểm tương tự. Gồm những chất sau:
• Bronopol
• DMDM hydantoin
• Diazolidinyl urea
• Hydroxymethylglycinate
• Imidazolidinyl urea
• Quaternium-15
• 5-bromo-5-nitro-1,3-dioxane
*** Kem chống nắng hoá học
- Oxybenzone và các dẫn xuất của nó thường được sử dụng nhất trong kem chống nắng hoá học. Nó đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc bảo vệ da khỏi tia UV, nhưng những tác động có hại đến sức khỏe và môi trường của oxybenzone cần được quan tâm.
- Bởi vì oxybenzone là một chất hóa học gây rối loạn nội tiết được xác định, khi được sử dụng trong thai kỳ có thể làm rối loạn nội tiết tố và gây tổn thương vĩnh viễn cho mẹ và thai nhi.
- Một nghiên cứu trên động vật năm 2018 kết luận rằng việc tiếp xúc với oxybenzone trong thời kỳ mang thai ở mức độ mà con người thường sử dụng đã tạo ra những thay đổi vĩnh viễn đối với các tuyến vú và quá trình tiết sữa. Các nghiên cứu khác trên động vật đã liên hệ hóa chất này với tổn thương vĩnh viễn ở thai nhi, có thể liên quan đến việc phát triển các vấn đề thần kinh ở tuổi trưởng thành, như bệnh Alzheimer.
CÁC THÀNH PHẦN CHĂM SÓC DA AN TOÀN
Dưới đây là một số lựa chọn thay thế để cải thiện những vấn đề về da phổ biến (gây khó chịu) nhất trong thai kỳ một cách an toàn.
*** Mụn trứng cá và tăng sắc tố
- Da dễ bị nổi mụn: axit glycolic là một trong những lựa chọn thay thế hiệu quả nhất và an toàn, thay vì sử dụng các sản phẩm có chứa retinoid như thông thường.
- Axit glycolic với lượng lớn không được khuyến khích trong thời kỳ mang thai, nhưng nó an toàn khi dùng với một lượng nhỏ thường thấy trong các sản phẩm chăm sóc da không kê đơn. Axit glycolic và những chất tương tự - như axit azelaic - cũng có thể giúp giảm nếp nhăn, làm sáng da và giảm sắc tố da mắc phải.
- Đại học Sản phụ khoa Hoa Kỳ (American College of Obstetricians and Gynecologists) xác nhận axit glycolic và axit azelaic là an toàn để điều trị mụn trứng cá trong thời kỳ mang thai, bên cạnh benzoyl peroxide và axit salicylic hàm lượng thấp bôi tại chỗ.
*** Chống lão hóa / nếp nhăn
- Các chất chống oxy hóa có tác dụng tăng cường hệ thống miễn dịch và ngăn chặn các gốc tự do trong cơ thể, bôi tại chỗ các chất chống oxy hóa như vitamin C có thể tăng cường sức sống cho làn da một cách an toàn bằng cách bảo vệ da khỏi bị hư hại và duy trì collagen.
- Các chất chống oxy hóa an toàn cho thai kỳ khác có thể dùng trong các sản phẩm chăm sóc da bao gồm:
• Vitamin E
• Vitamin K
• Vitamin B3
• Trà xanh
*** Da khô và rạn da
- Việc mang thai cần nhiều sự cung cấp từ cơ thể mẹ, nếu thai nhi cần thêm nước vào bất kỳ thời điểm nào, nó sẽ kéo nước ra khỏi cơ thể mẹ. Điều này – bên cạnh sự thay đổi hormone - có thể dẫn đến khô da.
- Ngoài việc uống nhiều nước, các sản phẩm dưỡng ẩm có dầu dừa, bơ ca cao, peptide và axit hyaluronic (HA) có thể cải thiện quá trình cấp ẩm. Khi xuất hiện vết rạn da, chiến lược để ngăn ngừa chúng là thường xuyên dưỡng ẩm cho các vùng dễ bị rạn để giúp da giãn tự nhiên khi thai phát triển.
*** Chống nắng
- Chống nắng là điều quan trọng nhất để ngăn ngừa lâu dài nếp nhăn và ung thư da. Nhưng chống nắng để bảo vệ làn da một cách an toàn khi mang thai là một câu hỏi lớn.
- Đánh giá về độ an toàn của kem chống nắng hóa học phổ rộng vẫn còn chưa rõ ràng, vì vậy hãy sử dụng các loại kem chống nắng nền khoáng có tác dụng bảo vệ da bằng cách phản xạ tia UV ra khỏi da. Thành phần kem chống nắng nền khoáng chứa zinc oxide và titanium dioxide, và đừng quên sử dụng áo quần chống nắng và đội mũ rộng vành để tăng hiệu quả.
KIỂM TRA ĐỘ AN TOÀN CỦA SẢN PHẨM CHĂM SÓC DA
- Thảo luận về độ an toàn của các sản phẩm chăm sóc da với bác sĩ da liễu và bác sĩ sản khoa, đặc biệt nếu đang dùng thuốc theo toa hoặc đang điều trị vấn đề da đã có từ trước.
- Chụp danh sách thành phần trong các sản phẩm để tìm xem có thành phần nào được đánh giá ở trên hay không - hoặc những thành phần khác có thể liên quan.
- Enviroment Working Group (EWG) đã phát triển cơ sở dữ liệu gồm hơn 87.000 sản phẩm chăm sóc da, đưa ra xếp hạng an toàn cho từng sản phẩm. Xếp hạng an toàn được tạo ra bằng cách tham khảo các thành phần của mỗi sản phẩm với hơn 60 cơ sở dữ liệu quy định và độc tính. Có thể tham khảo cơ sở dữ liệu EWG’s Skin Deep trực tuyến hoặc tải ứng dụng (iPhone hoặc Android), có thể quét mã vạch của sản phẩm để nhận xếp hạng an toàn của sản phẩm. (https://www.ewg.org/skindeep/)
QUY TRÌNH CHĂM SÓC DA AN TOÀN CHO PHỤ NỮ MANG THAI
- Sử dụng các loại sản phẩm chăm sóc da có thành phần an toàn cho phụ nữ mang thai trong quy trình chăm sóc da hàng ngày.
- Dùng nước ấm để rửa mặt bằng sữa rửa mặt dịu nhẹ phù hợp với loại da.
- Dùng toner phù hợp với loại da (toner dưỡng ẩm và cân bằng có chất chống oxy hóa, toner cho da nhờn).
- Dùng thêm serum hỗ trợ điều trị vấn đề da đang mắc phải (điều trị nám, làm săn chắc)
- Dùng kem dưỡng ẩm phù hợp với loại da (cấp ẩm, kem dưỡng ban ngày, kem làm săn chắc da, kem dưỡng ban đêm).
- Dùng kem dưỡng mắt nếu cần (làm săn chắc và giảm nếp nhăn, làm sáng da vùng mắt).
- Dùng kem chống nắng nền khoáng phổ rộng (SPF 30 trở lên).
- Để ngăn ngừa rạn da, sử dụng kem dưỡng ẩm ở bụng, hông và đùi (bơ dưỡng vùng bụng, kem trị rạn da, dầu trị rạn da)
LOẠI BỎ NHỮNG SẢN PHẨM KHÔNG PHÙ HỢP
- Thật không dễ dàng để điều chỉnh chế độ chăm sóc da yêu thích đang sử dụng, nhưng đây là việc cần phải làm để bảo vệ thai nhi, bao gồm việc loại bỏ các sản phẩm có thể gây hại cho mẹ hoặc thai nhi, ví dụ như các sản phẩm có chứa retinoid có nhiều khả năng dẫn đến các khuyết tật bẩm sinh nghiêm trọng.
- Cần trao đổi với bác sĩ sản khoa hoặc bác sĩ da liễu để được hướng dẫn cụ thể về xử lý các vấn đề ở da và mục tiêu chăm sóc da khi mang thai, đảm bảo sử dụng các sản phẩm chăm sóc da phù hợp cho mẹ trong thai kỳ và an toàn cho thai nhi.

Saturday, 18 September 2021

BÃ NHỜN (SEBUM) - Nguồn: DermNet NZ - Dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ



Bã nhờn (sebum) là một hỗn hợp phức tạp gồm các lipid:
• Glycerid
• Axit béo tự do
• Wax ester
• Squalene
• Cholesterol ester
• Cholesterol
Bã nhờn được tạo ra bởi các tuyến bã nhờn khi chúng phân rã. Các tế bào tuyến tồn tại khoảng một tuần, từ khi hình thành đến khi tiết ra. Các tuyến bã nhờn sản xuất chất béo, triglyceride, các chất được phân hủy bởi các enzym vi khuẩn (lipase) trong ống dẫn tuyến nhờn để tạo thành các hợp chất nhỏ hơn, axit béo tự do. Dầu (oil) trên bề mặt da là một hỗn hợp phức tạp bao gồm bã nhờn (sebum), lipid (từ các tế bào da trên bề mặt), mồ hôi và vật chất từ môi trường.
Các tuyến bã nhờn được tìm thấy trên hầu hết cơ thể, mặc dù có rất ít ở bàn tay và bàn chân và không có ở lòng bàn tay và lòng bàn chân. Các tuyến bã nhờn ở giữa lưng, trán và cằm lớn hơn và nhiều hơn những nơi khác (lên đến 400–900 tuyến trên một cm2). Chúng cũng có rất nhiều trong ống tai và xung quanh bộ phận sinh dục.
Tuyến bã nhờn gồm các thùy được nối với nhau bằng các ống dẫn, chúng được lót bằng các tế bào giống như các tế bào trên bề mặt da. Hầu hết các tuyến bã nhờn mở ra vào nang lông. Một số tuyến bã nhờn tự do mở trực tiếp lên bề mặt da. Chúng gồm các tuyến Meibomian trên mí mắt, tuyến Tyson trên bao quy đầu và các đốm Fordyce trên môi trên và bộ phận sinh dục.
* VAI TRÒ CỦA BÃ NHỜN
Bã nhờn có các chức năng sau:
• Giảm sự mất nước từ bề mặt da
• Bảo vệ da khỏi bị nhiễm trùng bởi vi khuẩn và nấm
• Góp phần tạo ra mùi cơ thể
• Được chiếm đóng bởi vi khuẩn Proprionibacterium acnes, có thể có vai trò trong việc điều chỉnh hệ thống miễn dịch
* SỰ KIỂM SOÁT SẢN XUẤT BÃ NHỜN BỞI HORMONE
Sự sản xuất bã nhờn dưới sự kiểm soát của hormone sinh dục (androgen). Các androgen hoạt động mạnh nhất là testosterone, 5-testosterone (DHT) và 5-androstene-317diol. Những hormone này và những hormone khác được tạo ra bởi các tuyến sinh dục (buồng trứng ở nữ, tinh hoàn ở nam) và bởi tuyến thượng thận. Các tuyến này lần lượt chịu ảnh hưởng của tuyến yên ở não.
Các androgen được tạo ra hoạt động mạnh hơn bởi các enzym trong da và cơ quan sinh dục. 5α-reductase loại 1 hoạt động ở da và loại II 5α-reductase hoạt động ở cơ quan sinh dục. Các enzym này chuyển đổi các androgen ít hoạt động hơn thành testosterone hoạt động và 5-testosterone (DHT). Các androgen này hoạt động mạnh hơn kích thích các tế bào tuyến bã nhờn tiết ra nhiều bã nhờn hơn.
Vai trò của hormone progesterone là không rõ ràng. Phụ nữ tiết nhiều bã nhờn hơn vào tuần trước kỳ kinh nguyệt khi mức progesterone cao hơn. Nhưng progesterone được biết là làm giảm hoạt động của enzyme 5-reductase, enzyme này có thể làm giảm sản xuất bã nhờn.
* BÃ NHỜN THAY ĐỔI THEO ĐỘ TUỔI
Các tuyến bã nhờn đã hoạt động trước khi sinh. Chúng được điều chỉnh bởi các hormone của mẹ và những hormone do chính thai nhi tạo ra.
Thành phần của dầu (oil) trên bề mặt da thay đổi theo độ tuổi. Sản xuất bã nhờn quá mức được gọi là tăng tiết bã nhờn (seborrhoea).
• Thai nhi tạo ra vernix caseosa, một lớp bảo vệ như sáp
• Trong 3 đến 6 tháng, bã nhờn do trẻ sơ sinh tiết ra giống như bã nhờn của người lớn
• Sau đó cho đến khi 8 tuổi, nó có ít sáp và squalene hơn và nhiều cholesterol hơn
• Sản xuất bã nhờn ở tuổi dậy thì tăng lên gấp 5 lần ở nam giới
• Nam giới trưởng thành tiết nhiều bã nhờn nhiều hơn một chút so với nữ giới trưởng thành
• Sản xuất bã nhờn giảm theo tuổi tác, đặc biệt là sau khi mãn kinh ở phụ nữ
- Lượng bã nhờn có thể bị thay đổi do bệnh lý:
• Rối loạn tuyến yên, thượng thận, buồng trứng hoặc tinh hoàn có thể làm tăng hoặc giảm
• Thiếu ăn lâu ngày làm giảm lượng bã nhờn
• Bệnh Parkinson làm tăng lượng bã nhờn
- Lượng bã nhờn có thể được giảm bớt bằng một số thuốc tác động toàn thân:
• Oestrogen (ví dụ như viên uống tránh thai kết hợp)
• Anti-androgen như cyproterone acetate và spironolactone
• Các dẫn xuất vitamin-A như isotretinoin
- Lượng bã nhờn có thể được tăng lên bằng một số thuốc tác động toàn thân khác:
• Testosterone
• Progesterones có đặc tính androgen như medroxyprogesterone, levonorgestrel
• Phenothiazines, như chlorpromazine
- Tỷ lệ các thành phần khác nhau của bã nhờn có thể thay đổi theo một số loại thuốc:
• Co-pyrindiol (Diane-35®, Estelle-35® và Ginet®-84) chứa ethinyl estradiol 35 mcg và cyproterone 2 mg - những chất này làm tăng linoleate
• Isotretinoin, làm giảm squalene, wax ester và fatty ester

TIÊU CHUẨN CỦA LÀN DA ĐẸP - Bs. Trương Tấn Minh Vũ



- Quan điểm về làn da đẹp có sự khác nhau giữa các chủng tộc, văn hoá, tuy nhiên vẫn có một số tiêu chuẩn chung.
- Biết được các tiêu chuẩn của làn da đẹp giúp xác định các vấn đề da hiện tại của bản thân để có biện pháp can thiệp phù hợp nhất.
- Hầu như các biện pháp chăm sóc, can thiệp trên da đều hướng tới 5 mục tiêu sau:
1. ĐỀU MÀU (EVEN TONE)
- Da đều màu là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của làn da đẹp, da có thể sáng màu hoặc tối màu nhưng muốn đẹp thì phải đều màu.
- Khi còn trẻ, làn da có thể tự điều chỉnh sắc tố một cách hoàn hảo và kết quả là da có màu sắc đồng đều, trừ vài trường hợp bệnh lý sắc tố bẩm sinh.
- Khi lớn lên, da tiếp xúc với các yếu tố gây hại như ánh sáng mặt trời, ô nhiễm, khói thuốc, bức xạ nhiệt… các tế bào da bị tổn thương và rối loạn sản xuất melanin, các vùng da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời quá nhiều xuất hiện tình trạng tăng sắc tố như nám, agespots..
- Một số bệnh lý hay gặp như bạch biến, lang ben… cũng làm da không đều màu.
* ** Hướng xử lý: chống nắng, sử dụng thuốc bôi, laser, IPL, peel, điều trị bệnh lý để xử lý các tình trạng thay đổi sắc tố.
2. ĐỘ PHẲNG ( SMOOTHNESS)
- Điểm đáng chú ý tiếp theo của làn da đẹp là sự mượt mà, bề mặt không lồi lõm.
- Các nguyên nhân thường ảnh hưởng đến độ phẳng của da như sẹo lõm, mụn, nếp nhăn, lỗ chân lông to…
* ** Hướng xử lý: điều trị mụn, sẹo lõm, thu nhỏ lỗ chân lông bằng laser, peel, xử lý các nếp nhăn bằng filler, botox.
3. ĐỘ SĂN CHẮC (FIRMNESS)
- Da đẹp phải có độ săn chắc, đàn hồi.
- Một trong những dấu hiệu lão hóa phổ biến nhất của da là da mất đi sự săn chắc và trở nên lỏng lẻo, chảy xệ do quá trình mất đi collagen và elastin theo thời gian. Đây là quá trình tự nhiên của cơ thể và có thể bị thúc đẩy nhanh hơn do các yếu tố lão hoá ngoại sinh.
*** Hướng xử lý: chống nắng, dưỡng ẩm, mesotherapy, filler, cấy chỉ, thúc đẩy tăng sinh collagen tự thân bằng Laser, RF, HIFU…
4. KẾT CẤU ĐỒNG NHẤT (EVEN TEXTURE)
- Da đẹp phải có kết cấu đồng đều, không có chỗ cứng chỗ mềm.
- Theo thời gian kết cấu da cũng có sự thay đổi, kết quả của việc các tế bào da xuất hiện sự bất thường trong quá trình sản xuất dưới các tác động của môi trường và các yếu tố bên trong cơ thể (vd: mụn, mô sẹo cứng sau mụn, vết thương, nhiễm trùng da, các bệnh lý thay đổi kết cấu da, u da…)
* ** Hướng xử lý: điều trị các bệnh lý làm thay đổi sự đồng đều của kết cấu da, sử dụng Laser, HIFU, RF, phẫu thuật để hỗ trợ làm đều kết cấu da.
5. ĐỘ ẨM (MOISTURE)
- Độ ẩm là một trong những tiêu chuẩn quan trọng của làn da đẹp. Da không đủ ẩm (khô) sẽ có bề mặt thô ráp, sần sùi, nhạy cảm. Da nhờn quá mức làm bề mặt da bóng mỡ, tăng khả năng mụn, lỗ chân lông to.
- Da đủ độ ẩm có bề mặt căng bóng, mịn, toả sáng.
- Da đủ độ ẩm sẽ lâu hình thành nếp nhăn, làm chậm quá trình lão hoá.
* ** Hướng xử lý: điều chỉnh độ ẩm da phù hợp, dưỡng ẩm đối với da khô và giảm tiết nhờn ở da dầu, chế độ dinh dưỡng phù hợp, cấp ẩm trực tiếp cho da bằng mesotherapy.

DA NHỜN (OILY SKIN): HƯỚNG XỬ LÝ - Bs. Minh Vũ



Các nguyên tắc điều trị cho da nhờn tương tự như trong điều trị mụn trứng cá.
CHĂM SÓC DA ĐÚNG CÁCH
Da nhờn thường có dòng sản phẩm riêng, nên chăm sóc da bằng sản phẩm phù hợp.
1. Rửa mặt, toner và dưỡng ẩm
- Sữa rửa mặt cho da nhờn thường có chứa lưu huỳnh, axit salicylic hoặc trà xanh- làm tan bã nhờn dư thừa. Glycolic acid cũng thường được bổ sung, giúp cải thiện tông màu và kết cấu tổng thể của da.
- Sau khi rửa mặt, dùng toner nhẹ, không chứa cồn để loại bỏ các chất bẩn mà sữa rửa mặt chưa rửa sạch.
- Thoa kem dưỡng ẩm nhẹ, không chứa dầu.
2. Tẩy tế bào chết mỗi tuần một lần
- Tẩy tế bào chết để ngăn ngừa lỗ chân lông bị bít tắc, thường xảy ra ở da nhờn.
3. Đắp mặt nạ mỗi tuần một lần
- Mặt nạ làm sạch sâu có chứa đất sét có thể thấm bã nhờn thừa.
4. Dùng chất se khít lỗ chân lông
- Nếu da quá nhờn, có thể sử dụng thêm để làm se khít lỗ chân lông và loại bỏ nhờn.
BÔI TẠI CHỖ
1. Retinoids
- Họ retinoid bôi tại chỗ bao gồm vitamin A (retinol); các dẫn xuất tự nhiên của nó như retinaldehyd, axit retinoic và este retinyl; và một số dẫn xuất vitamin A tổng hợp như adapalene và tazarotene.
- Retinoids thúc đẩy sự tăng trưởng và biệt hóa của keratinocyte đồng thời làm giảm đáng kể sự tăng sinh bã nhờn, sự biệt hóa và tổng hợp của bã nhờn.
- Adapalene và tretinoin đã được báo cáo làm giảm kích thước lỗ chân lông trên mặt. Một nghiên cứu cho thấy kích thước lỗ chân lông giảm đáng kể ở 60 phụ nữ sử dụng kem tretinoin 0,025% mỗi ngày trong 90 ngày.
2. Dược mỹ phẩm
- Niacinamide 2% bôi tại chỗ làm giảm đáng kể tỷ lệ bài tiết bã nhờn.
- Trà xanh được chứng minh làm giảm đáng kể sự tiết bã nhờn.
- L-Carnitine 2% bôi tại chỗ được chứng minh là làm giảm đáng kể hàm lượng axit béo nội bào trong tế bào tuyến bã và dẫn đến giảm bã nhờn đáng kể.
THUỐC UỐNG
1. Isotretinoin
- Isotretinoin là một retinoid đường uống đã được chứng minh là giúp giảm bã nhờn nhiều nhất,làm giảm kích thước và hoạt động bài tiết của tuyến bã.
- Isotretinoin có nguy cơ gây quái thai nên cần cẩn thận khi sử dụng trên phụ nữ trong độ tuổi hoạt động tình dục.
2. Spironolactone
- Spironolactone là một thuốc điều trị tăng huyết áp, nhưng ngày càng được các bác sĩ da liễu sử dụng để điều trị da nhờn, mụn trứng cá, rụng tóc do androgen ở phụ nữ..., do tính chất đối kháng alderosterone và ức chế thụ thể androgen.
- Spironolactone làm giảm sản xuất bã nhờn khi dùng liều 50 đến 200mg mỗi ngày.
- Không tìm thấy bằng chứng về việc spironolactone làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư phụ thuộc nội tiết tố như ung thư vú, buồng trứng hoặc ung thư nội mạc tử cung.
3. Thuốc tránh thai đường uống
- Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng thuốc tránh thai đường uống làm giảm nhờn trên da mặt.
PHƯƠNG PHÁP KHÁC
1. Botulinum toxin
- Nghiên cứu cho thấy sự sụt giảm rõ rệt trong sản xuất bã nhờn và lỗ chân lông thu nhỏ khi được điều trị bằng botulinum toxin.
2. Liệu pháp quang động
- Liệu pháp quang động (PDT) sau khi bôi axit-aminolevulinic (ALA) được sử dụng để điều trị mụn trứng cá. ALA được hấp thụ tốt hơn bởi các tuyến bã và các tế bào bã nhờn chuyển hóa ALA thành protoporphyrin nhạy cảm với ánh sáng (PplX). Khi tiếp xúc với ánh sáng ở liều lượng và bước sóng thích hợp, PplX hình thành các gốc tự do gây độc tế bào.
- Một số nghiên cứu cho thấy sự giảm đáng kể lượng bã nhờn và sự thu nhỏ kích thước của tuyến bã sau điều trị PDT với ALA.
3. Laser
- Laser làm giảm chức năng và kích thước tuyến bã nhờ hiệu ứng quang nhiệt, có thể phối hợp thêm carbon hoạt tính để tăng hiệu quả.
4. Peel da
- Peel da bằng salicylic hoặc axit glycolic nồng độ cao được sử dụng để giảm bã nhờn.
5. PRP và các sản phẩm từ tế bào gốc
- Có yếu tố tăng trưởng kích hoạt khả năng tự sửa chữa và tái tạo của các tế bào da, giúp điều chỉnh sự cân bằng của dầu và độ ẩm trong da, bên cạnh những tác dụng khác.
6. Loại bỏ một số tuyến bã hoạt động quá mức
- Một số nghiên cứu ở Hàn Quốc cho thấy việc có thể thay đổi lượng bã nhờn trên da bằng cách loại bỏ một số tuyến bã hoạt động quá mức bằng Laser Co2 hoặc RF needle.
TRONG ĐIỀU TRỊ DA NHỜN, NẾU THỰC HIỆN CHĂM SÓC DA ĐÚNG CÁCH, PHỐI HỢP CÁC SẢN PHẨM BÔI PHÙ HỢP VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP VẬT LÝ LÀ ĐÃ ĐẠT HIỆU QUẢ KHÁ TỐT, HẠN CHẾ DÙNG CÁC LOẠI THUỐC UỐNG TÁC DỤNG TOÀN THÂN.

Chất dưỡng ẩm trong chăm sóc da - Dịch- Bs. Trương Tấn Minh Vũ

  Link tải file pdf: https://drive.google.com/file/d/1QJYFAHEkdNiJxObPcTDoFPQq9hUnDsrN/view?usp=sharing