https://drive.google.com/file/d/1AnAW0BMRVOfQUSQp30K8nHgE31uGV540/view?usp=sharing
Showing posts with label Dược mỹ phẩm. Show all posts
Showing posts with label Dược mỹ phẩm. Show all posts
Sunday, 19 September 2021
Phần viết về Hydroquinone của tác giả Obagi - Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
HYDROQUINONE
HQ là một chất làm sáng da có nguồn gốc từ phenol. Nó thường được sử dụng trong da liễu để điều trị các tình trạng tăng sắc tố da, bao gồm nám da, tàn nhang, đốm nâu và tăng sắc tố sau viêm (PIH). HQ hoạt động bằng cách ức chế enzym tyrosinase, yếu tố cần thiết để chuyển đổi dihydroxyphenylalanin (DOPA) thành melanin. Hoạt động của tyrosinase có thể giảm tới 90% khi sử dụng HQ. HQ cũng có thể làm thoái hoá melanosomes và gây độc có chọn lọc cho tế bào hắc tố. Nó đạt được điều này bằng cách thay đổi cấu trúc các bào quan của tế bào hắc tố, do đó làm giảm sản xuất các tế bào hắc tố và tăng sự phân hủy của chúng. HQ chỉ ngăn chặn sự hình thành các hắc tố mới (từ các tế bào hắc tố nằm trong hoặc gần lớp tế bào đáy) nên da không thể sáng lên ngay lập tức.
HQ có sẵn ở dạng lotion, kem, chất lỏng hoặc gel. Các dạng lotion và kem được ưu thích hơn vì dạng lỏng và gel dẫn tới việc bôi không đều. Điều quan trọng cần lưu ý là sau khi HQ đã bị oxy hóa và chuyển sang màu nâu, nó có rất ít hoặc không có hoạt tính.
HQ được bán không kê đơn với nồng độ 2% và trong thuốc bôi kê đơn với nồng độ từ 3% đến 5%. Nồng độ cao hơn (6% đến 8%) không được chứng minh là có hiệu quả hơn và làm tăng nguy cơ gây ra phản ứng đặc trưng trong hoặc sau khi ngừng điều trị (tương tự như ochronosis, tăng sắc tố da màu xanh đen). Đôi khi, các hãng dược sẽ tổng hợp HQ bôi với nồng độ cao tới 20% để điều trị cụ thể các tình trạng như bạch biến. Tuy nhiên, việc sử dụng HQ ở cường độ mạnh hơn 4% thường không được chấp nhận bởi vì chúng có liên quan đến việc tăng nguy cơ sạm da nghịch lý (exogenous ochronosis, tăng sắc tố da màu xanh đen), có thể là vĩnh viễn. Exogenous ochronosis biểu hiện dưới dạng các mảng da màu xanh đen và phổ biến hơn ở những người da đen của một số bộ lạc nguyên thuỷ nhất định. Tuy nhiên, nó có thể xảy ra ở bất kỳ màu hoặc loại da nào.
Việc sử dụng HQ được khuyến cáo giới hạn trong khoảng thời gian 4 hoặc 5 tháng. Sử dụng kéo dài ngay cả cường độ thấp hơn HQ có thể gây độc cho tế bào và có liên quan đến tăng nguy cơ mắc exogenous ochronosis. Ở những bệnh nhân có biểu hiện exogenous ochronosis, có thể điều trị hiệu quả bằng cách cho bệnh nhân sử dụng HQ để làm trắng và phối hợp, cùng với peel lớp bì nhú kết hợp điều trị laser Nd: YAG.
Các tác dụng phụ hiếm gặp khác liên quan đến việc sử dụng HQ là châm chích, bỏng rát, kích ứng, phản ứng giống phát ban và viêm da tiếp xúc dị ứng. Sự hấp thu toàn thân hoặc độc tính do sử dụng HQ tại chỗ kéo dài (ở nồng độ 2% đến 4%) chưa được báo cáo. Ngay cả khi vô tình ăn phải, HQ hiếm khi tạo ra độc tính toàn thân. Điều này trái ngược với các chất làm ức chế sắc tố được sử dụng trong quá khứ, như các hợp chất thuỷ ngân, gây tổn thương thận và mono-benzone gây phá hủy tế bào hắc tố vĩnh viễn. Việc tăng nguy cơ ung thư da chưa được ghi nhận khi sử dụng HQ. Ngoài ra, HQ không trực tiếp gây ra tăng độ nhạy sáng. Tuy nhiên, với kết quả làm lượng melanin giảm xuống sẽ làm da hấp thụ nhiều tia cực tím (UV) hơn. Điều này dẫn đến tổn thương da do ánh nắng mặt trời mãn tính. Các loại kem chống nắng phổ rộng, nhất là những loại có chứa chất chống nắng vật lý, được khuyến khích sử dụng trong khi sử dụng HQ.
Để có kết quả tối ưu, với mỗi lần thoa, bệnh nhân nên bôi khoảng 1,5 gam HQ lên lớp biểu bì (tương tự như lượng trong 1 inch kem đánh răng). Lượng này cần được mát xa hoàn toàn vào da. Sau khi sử dụng HQ, độ pH của da sẽ chuyển sang trung tính, do đó tạo điều kiện cho quá trình oxy hóa của sản phẩm. Do hiện tượng này, hoạt động của HQ tương đối ngắn, và do đó nó nên được sử dụng hai lần mỗi ngày. Khi màu da trở nên đồng đều rõ ràng, tần suất thoa có thể giảm dần. Việc bôi sản phẩm không nên dừng đột ngột.
Mặc dù HQ là một chất làm giảm sắc tố mạnh, hiệu quả của nó có thể được nâng cao hơn nữa khi nó được sử dụng kết hợp với AHA, tretinoin hoặc cả hai. Sự hiện diện của AHA trong các sản phẩm có chứa HQ cũng ngăn chặn quá trình oxy hóa của HQ, do đó duy trì tác dụng của nó. Vì HQ tương đối không ổn định, khi kết hợp nó với tretinoin, hai sản phẩm nên được kết hợp mới ngay trước khi bôi ngoài da. Sự thâm nhập của HQ cũng có thể được tăng lên bằng cách kết hợp nó với các thành phần chính khác (ví dụ: axit azelaic) và bằng cách điều chỉnh độ pH của da trước khi điều trị. Cần lưu ý, quá trình tăng cường độ xâm nhập nói trên hoàn toàn khác với trạng thái tăng tính thấm. Sự thâm nhập của các thành phần hoạt tính của sản phẩm có thể được tăng cường bằng cách sử dụng nó cùng với một chất bôi ngoài da khác (như khi chúng ta đang điều trị bệnh). Ngược lại, sự gia tăng tính thấm của biểu bì là một rối loạn đặc trưng bởi chức năng hàng rào biểu bì bị tổn thương, nó dẫn đến khô da, nhạy cảm, kích ứng và giảm khả năng lành thương. Hơn nữa, khi sử dụng HQ, biểu hiện của da nhờn phải được lưu ý và giảm bớt. Da nhờn cần được rửa đúng cách và sử dụng thêm các thành phần bôi tại chỗ hoặc tác dụng toàn thân. Cả hai đều hỗ trợ giảm bã nhờn và cho phép tăng sự thâm nhập của HQ.
Việc sử dụng kết hợp HQ và tretinoin trong ít nhất 6 tuần là điều cần thiết trước khi thực hiện một quy trình như peel da sâu có kiểm soát (20% hoặc 26% đến 28% axit trichloroacetic [TCA]). Việc điều hoà trước này làm giảm khả năng sản xuất melanin của da và do đó làm giảm nguy cơ bị PIH. Sự kết hợp HQ và tretinoin cân bằng độ ẩm cho da, mang lại kết quả đồng đều hơn vì nước là chất mang các chất lột tẩy.
HQ 4% khi được sử dụng một mình, có thể giảm hầu hết các vấn đề về tăng sắc tố do sự gia tăng hoạt động của các tế bào hắc tố và sự sản sinh melanin quá mức của chúng. Trong trường hợp này, việc ức chế quá trình sản xuất melanin được gọi là làm trắng. Tuy nhiên, khi HQ được trộn với tretinoin hoặc AHAs, tác dụng làm trắng trở nên ít quan trọng hơn, và một tác dụng khác sẽ được ưu tiên. Thuật ngữ phối hợp dùng để chỉ quá trình này, tạo nên sự phân bố melanin đồng đều hơn cho các tế bào sừng xung quanh.
Để có kết quả nhanh hơn, hiệu quả hơn, nên kết hợp cả hai bước. Bước làm trắng nên được thực hiện trước, tiếp theo là phối hợp. Khi một sản phẩm có chứa HQ được dự định kết hợp với một sản phẩm khác có chứa tretinoin (cho mục đích phối hợp), sản phẩm HQ phải có độ pH có tính axit cao hơn để cho phép trộn với tretinoin một cách hiệu quả. Điều này trái ngược với các sản phẩm chỉ chứa HQ, loại cơ bản hơn dành cho mục đích làm trắng. Do tác dụng làm triệt tiêu hiệu quả làm trắng và phối hợp, các sản phẩm HQ bôi ngoài da có chứa steroid cũng nên tránh.
BAKUCHIOL, hoạt chất tiềm năng thay thế Retinol (tt) - Bs. Trương Tấn Minh Vũ
Bakuchiol là một hoạt chất thay thế cho retinoid bôi tại chỗ, gần đây đã được phổ biến rộng rãi hơn trong các tài liệu. Bakuchiol là một phenol meroterpene tinh khiết được tìm thấy chủ yếu trong hạt của cây Psoralea corylifolia (babchi) ở Ấn Độ, nó cũng được tìm thấy trong các nguồn thực vật khác như Psoralea linearulosa, Pimelea drupaceae, Ulmus, Otholobium pubescens và Piper longum. Hợp chất này đã được chứng minh có hoạt tính chống tăng sinh, chống viêm, chống oxy hóa và hoạt tính chống mụn.
Về mặt cơ chế, bakuchiol dường như nhắm mục tiêu vào một số con đường tế bào tương tự như các mục tiêu của retinoids, bao gồm điều chế các gen thụ thể axit retinoic và tang cường điều chỉnh collagen và các enzym tổng hợp chất nền ngoại bào.
NẾP NHĂN
Cả bakuchiol và retinol đều làm giảm đáng kể nếp nhăn nông bề mặt so với ban đầu. Đáng chú ý, những thay đổi đáng kể so với ban đầu được thấy ở thời điểm tuần 12. Không có sự khác biệt đáng kể giữa bakuchiol và retinol.
SẮC TỐ
Sắc tố được đánh giá qua phân loại lâm sàng và thông qua phân tích khuôn mặt về diện tích bề mặt bị ảnh hưởng và mức độ sắc tố chung. Phân loại lâm sàng cho thấy 59% người tham gia nhóm bakuchiol đã cải thiện tình trạng tăng sắc tố, trong khi 44% người trong nhóm retinol cải thiện tình trạng tăng sắc tố ở tuần thứ 12. Retinol và bakuchiol cải thiện cả mức độ sắc tố và diện tích bề mặt ảnh hưởng ở tuần 12. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa bakuchiol và retinol trong phân tích khuôn mặt hoặc phân loại lâm sàng.
TÁC DỤNG PHỤ
Có sự bong tróc nhiều hơn đáng kể ở nhóm retinol tại tất cả các thời điểm theo dõi. Bakuchiol dường như có xu hướng mẩn đỏ nhiều hơn trên phân loại lâm sàng ở tuần thứ 4 và tăng mức độ mẩn đỏ khi phân tích trên máy tính vào tuần thứ 4. Không có thay đổi đáng kể về mẩn đỏ ở cả hai nhóm ở tuần thứ 8 hoặc 12.
Có nhiều báo cáo hơn về ngứa và rát ở nhóm dùng retinol, nhưng không có ý nghĩa thống kê. Có nhiều báo cáo có ý nghĩa thống kê về cảm giác châm chích ở nhóm dùng retinol.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu chứng minh rằng bakuchiol có thể so sánh với retinol về khả năng cải thiện tổn thương da do ánh sáng và dung nạp tốt hơn retinol.
Đặc biệt, đối với những người tiêu dùng coi trọng các sản phẩm tự nhiên, bakuchiol có sự hấp dẫn hơn do có nguồn gốc từ một số loài thực vật.
Bakuchiol biểu hiện hứa hẹn sẽ là một giải pháp thay thế retinol với ít tác dụng phụ hơn. Cả nghiên cứu này và một nghiên cứu in vivo trước đó đều cho thấy rằng việc sử dụng bakuchiol hai lần mỗi ngày có thể dẫn đến những cải thiện rõ rệt trong một số thông số chống lão hoá. Mặc dù retinol và bakuchiol khác nhau về cấu trúc, bakuchiol đã chứng minh khả năng hoạt động như một chất tương tự chức năng cho retinol. Cụ thể, cả hai hợp chất đều gây ra biểu hiện gen rất giống nhau trên da người. Điều này bao gồm các gen liên quan đến việc tế bào hấp thu retinol nội sinh, kích hoạt retinol trong da và sản xuất các protein nền ngoại bào cung cấp hỗ trợ và tính toàn vẹn của biểu bì.
Mặc dù bakuchiol có thể chia sẻ một số đặc tính chống lão hóa của nó với retinoids, nhưng hợp chất này tạo ra một bộ con đường hóa học riêng của nó cũng có thể góp phần vào tác dụng chống lão hóa của nó. Có lẽ đáng chú ý nhất, bakuchiol ảnh hưởng đến một số quá trình chống oxy hóa. Stress oxy hóa trên các tế bào da, từ cả quá trình trao đổi chất bên trong và các chất độc và tác nhân gây căng thẳng từ môi trường bên ngoài, được biết là góp phần đáng kể vào quá trình lão hóa da. Bakuchiol đã được chứng minh là có tác dụng kích hoạt yếu tố nhân 2 liên quan đến erythroid 2, một yếu tố phiên mã có vai trò quan trọng trong việc tế bào chống lại stess oxy hóa. Các khả năng chống oxy hóa bổ sung bao gồm khả năng quét các gốc oxy tự do và vai trò quan trọng của nó trong việc ngăn chặn quá trình peroxy hóa lipid của ty thể.
Ngoài việc cải thiện độ sâu của nếp nhăn, bakuchiol cũng làm giảm mức độ sắc tố và diện tích bề mặt trong quá trình điều trị 12 tuần. Điều này có thể là do tác dụng chống oxy hóa của bakuchiol, cũng như khả năng phá vỡ sự tổng hợp melanin của nó. Điều thú vị là bakuchiol có thể can thiệp vào hai bước của con đường tổng hợp melanin, ngăn chặn cả hoạt hóa hormone kích thích a-melanocyte và tyrosinase. Các tác dụng ức chế của Bakuchiol đối với việc sản xuất melanin ở da là nguyên nhân khiến hợp chất này được sử dụng trong cả mỹ phẩm trị chống lão hoá và chống tăng sắc tố.
Về khả năng dung nạp, bệnh nhân dùng bakuchiol có ít tác dụng phụ trên da hơn so với những người dùng retinol, ít châm chích và bong tróc hơn. Ngoài các đặc tính chống oxy hóa của nó, điều này cũng có thể liên quan đến tác dụng chống viêm của bakuchiol. Hơn nữa, bakuchiol cho thấy không làm tăng nhạy cảm ánh sáng, các sản phẩm retinoid làm tăng nhạy sáng.
Điều thú vị là một trong những bệnh nhân trong nhóm dùng bakuchiol ghi nhận rằng vảy da dọc theo chân tóc giảm bớt khi bôi tại chỗ, mặc dù nghiên cứukhông đánh giá về việc điều trị gàu hoặc viêm da tiết bã, nhưng điều đáng chú ý là bakuchiol đã biết đến với hoạt tính chống nấm.
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA AHA VÀ BHA - Dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ
AHA VÀ BHA
AHA và BHA là các loại hydroxy acid, có thể tìm thấy cả hai loại acid trong nhiều sản phẩm: tẩy rửa, toner, dưỡng ẩm, tẩy tế bào chết, peel, mặt nạ…
Mục đích của cả AHA và BHA là tẩy tế bào chết trên da. Tùy vào nồng độ, một số sản phẩm có thể loại bỏ các tế bào chết trên bề mặt da, hoặc có thể loại bỏ toàn bộ lớp bề mặt da.
Tuy nhiên, không có loại hydroxy acid nào “tốt hơn” so với loại nào. Cả hai đều là biện pháp tẩy da chết hiệu quả cao, sự khác biệt nằm ở công dụng của chúng.
Tìm hiểu kỹ về những khác biệt này để có thể xác định xem da của mình cần sản phẩm AHA hay BHA.
LỢI ÍCH CHUNG CỦA CẢ 2 LOẠI
AHA và BHA đều là chất tẩy da chết.
Chúng đều có tác dụng:
• giảm viêm, dấu hiệu chính của mụn trứng cá, trứng cá đỏ và các vấn đề da khác
• giảm sự xuất hiện của lỗ chân lông to và nếp nhăn trên bề mặt
• làm đều màu da của bạn
• cải thiện kết cấu da tổng thể
• loại bỏ tế bào da chết
• làm thông thoáng lỗ chân lông để ngăn ngừa mụn
SỰ KHÁC NHAU GIỮA AHA VÀ BHA
AHA là viết tắt của alpha hydroxy acid. BHA là viết tắt của beta hydroxy acid.
AHA là acid tan trong nước được tạo ra từ trái cây có đường. Chúng giúp tẩy bề mặt da để các tế bào da mới, có sắc tố đồng đều hơn có thể hình thành và thay thế chúng. Sau khi sử dụng, da sẽ mịn hơn khi chạm vào.
BHA là acid tan trong dầu. Không giống như AHA, BHA có thể đi sâu hơn vào lỗ chân lông để loại bỏ tế bào da chết và bã nhờn dư thừa.
NÊN CHỌN LOẠI NÀO
AHA chủ yếu được sử dụng cho:
• tăng sắc tố nhẹ như đốm nâu, nám và sẹo
• lỗ chân long nở rộng
• nếp nhăn nhẹ và nếp nhăn trên bề mặt
• màu da không đồng đều
Mặc dù AHA thường bán trên thị trường là an toàn cho mọi loại da, nhưng cần lưu ý nếu bạn có da cực kỳ khô và nhạy cảm, cần sử dụng theo cách tăng từ từ tới khi đạt mức sử dụng hàng ngày để tránh gây kích ứng da.
BHA chủ yếu được sử dụng cho mụn trứng cá và tổn thương do ánh nắng mặt trời. Các sản phẩm này đi sâu vào nang lông để làm khô dầu dư thừa và tế bào da chết để làm thông thoáng lỗ chân lông. Vì những tác dụng này, BHA thích hợp nhất cho da hỗn hợp và da dầu. Nồng độ thấp hơn có thể được sử dụng trong làm dịu da nhạy cảm. BHA cũng hỗ trợ trong giảm đỏ da liên quan đến trứng cá đỏ.
*** Nếu muốn hiệu quả làm dịu da khô hoặc chống lão hóa, hãy thử dùng AHA. Nếu muốn trị mụn, hãy dùng BHA.
CÁCH SỬ DỤNG AHA
Tất cả các AHA đều có hiệu quả tẩy da chết đáng kể. Tuy nhiên, tác dụng và cách sử dụng có thể hơi khác nhau giữa các loại acid. AHA nên có nồng độ tối đa từ 10 đến 15%. Thoa sản phẩm mới cách ngày cho đến khi da quen với chúng. Điều này cũng sẽ làm giảm nguy cơ bị các tác dụng phụ như kích ứng.
Dù chọn loại AHA nào thì tác dụng tẩy tế bào chết mạnh cũng khiến da nhạy cảm hơn với ánh nắng mặt trời. Thoa kem chống nắng mỗi sáng để ngăn ngừa bỏng, đốm nâu và tăng nguy cơ ung thư da.
*** Glycolic acid
Glycolic acid là loại AHA phổ biến nhất, được làm từ một loại cây phổ biến rộng rãi là mía.
Axit glycolic giúp tẩy da chết đáng kể. Điều này làm cho nó trở thành một phương pháp điều trị toàn diện cho nhiều vấn đề về da. Và nhờ vào đặc tính kháng khuẩn của nó, nó thậm chí có thể giúp ngăn ngừa mụn bùng phát.
Axit glycolic được tìm thấy trong một số sản phẩm peel, cũng như các sản phẩm chăm sóc da hàng ngày.
*** Lactic acid
Lactic acid là một loại AHA phổ biến khác. Không giống như các AHA khác được tạo ra từ trái cây, lactic acid được tạo ra từ đường lactose trong sữa, được biết đến với tác dụng tẩy tế bào chết và chống lão hóa đáng kể.
Giống như glycolic acid, lactic acid được tìm thấy trong nhiều loại sản phẩm
*** Tartaric acid
Tartaric là một loại AHA khác chưa được biết đến rộng rãi, được làm từ chiết xuất nho và có thể giúp giảm bớt các dấu hiệu của tổn thương do ánh nắng mặt trời và mụn trứng cá.
*** Citric acid
Citric acid được làm từ chiết xuất từ trái cây họ cam quýt. Mục đích chính của nó là trung hòa độ pH của da và làm đều các mảng da thô ráp. Citric acid dung trong serum hoặc toner được sử dụng trước khi thoa kem dưỡng ẩm. Nó cũng có tác dụng hỗ trợ với kem chống nắng để cung cấp khả năng chống tia cực tím tối đa.
*** Malic acid
Malic acid là một dạng giao thoa giữa AHA-BHA, được làm từ acid táo. So với các AHA khác, malic acid không hiệu quả bằng nếu dùng riêng lẻ. Tuy nhiên, nó làm cho các axit khác hiệu quả hơn, nên được dùng phổ biến trong các sản phẩm AHA kết hợp.
*** Mandelic acid
Mandelic acid chứa các phân tử lớn hơn có nguồn gốc từ chất chiết xuất từ quả hạnh, có thể được kết hợp với các AHA khác để tăng khả năng tẩy da chết. Khi sử dụng riêng lẻ, mandelic acid có thể cải thiện kết cấu và kích thước lỗ chân lông.
CÁCH SỬ DỤNG BHA
BHA cũng được thiết kế để sử dụng hàng ngày, nhưng ban đầu nên thoa một vài lần trong tuần cho đến khi da quen với chúng. Mặc dù BHA không làm cho da nhạy cảm với ánh nắng mặt trời so với AHA, vẫn nên thoa kem chống nắng mỗi ngày. Điều này sẽ giúp ngăn ngừa tác hại của ánh nắng mặt trời.
*** Salicylic acid
Salicylic acid là BHA phổ biến nhất, nồng độ sử dụng có thể dao động trong khoảng 0,5-5% tùy thuộc vào sản phẩm, được biết đến như một phương pháp điều trị mụn trứng cá, nhưng nó cũng có thể giúp làm dịu tình trạng viêm và mẩn đỏ nói chung.
*** Citric acid
Dù chủ yếu được phân loại là AHA, một số công thức của citric acid cũng là BHA. Thay vì làm trung hoà độ pH trên da thì loại citric acid này chủ yếu được sử dụng để làm khô bã nhờn dư thừa và làm sạch các tế bào da chết sâu trong lỗ chân lông.
CÁCH KẾT HỢP SẢN PHẨM AHA VÀ BHA
Theo một đánh giá năm 2009, AHA và BHA mang lại làn da đầy đặn hơn khi sử dụng kết hợp. Điều này có thể là do tăng sản xuất collagen, có thể làm cho cả lớp bì và biểu bì trở nên đầy đặn hơn.
Do đó, nhiều sản phẩm sử dụng không thường xuyên có chứa cả hai loại axit.
Tuy nhiên, không nên bôi AHA và BHA chồng lên nhau, đây đều là chất tẩy tế bào chết, vì vậy sử dụng cả hai có thể gây khô và kích ứng.
*** Dùng xen kẽ các sản phẩm bằng cách sử dụng một loại vào buổi sáng và loại còn lại vào ban đêm.
Cũng có thể sử dụng AHA và BHA vào những ngày xen kẽ. Cách này hiệu quả nếu đang sử dụng các loại peel da tại nhà có chứa AHA.
Một cách dùng khác là chỉ sử dụng các acid này trên một số vị trí nhất định trên mặt. Ví dụ, có thể thoa AHA cho vùng da khô và BHA cho vùng da nhờn nếu có da hỗn hợp.
KẾT LUẬN
AHA và BHA có những lợi ích tương tự, người dùng có thể nhận được các mức tẩy da chết khác nhau từ mỗi loại.
Tuy nhiên, mỗi thành phần có thể được sử dụng để đạt được các mục tiêu chăm sóc da khác nhau. Nếu tìm kiếm một liệu pháp chống lão hóa toàn diện, thì AHA có thể là lựa chọn phù hợp nhất. BHA có thể phù hợp hơn nếu muốn làm dịu tình trạng viêm và loại bỏ mụn trứng cá.
Nếu vẫn không chắc nên chọn loại nào, hãy trao đổi với bác sĩ da liễu để có sự tư vấn đúng với tình trạng da hiện tại.
Subscribe to:
Posts (Atom)
Chất dưỡng ẩm trong chăm sóc da - Dịch- Bs. Trương Tấn Minh Vũ
Link tải file pdf: https://drive.google.com/file/d/1QJYFAHEkdNiJxObPcTDoFPQq9hUnDsrN/view?usp=sharing
-
***TỔNG QUAN*** - Nevus Hori còn được gọi là nevus dạng Ota mắc phải 2 bên (Acquired bilateral nevus of Ota-like macules – ABNOM). - Nevus H...
-
Bã nhờn (sebum) là một hỗn hợp phức tạp gồm các lipid: • Glycerid • Axit béo tự do • Wax ester • Squalene • Cholest...
-
Link tải file pdf: https://drive.google.com/file/d/1VQZ5dzYk8N9ExUqiIU4lsawFq2KrXMlO/view?usp=sharing





